Làng gốm Quyết Thành
(Ảnh trên: Nghệ nhân Lại Văn Tiến)
Hẹn mãi, tôi mới gặp được ông Lại Văn Tiến, trưởng thôn Quyết Thành, làng nghề gốm truyền thống từ lâu đời bởi ông suốt ngày bận bịu với hàng núi công việc. Nhưng khi ngồi nhìn ông làm việc và say sưa kể chuyện về gốm, về những con người ở đây và về cả những sản phẩm của nghề truyền thống của làng, tôi mới hiểu được tại sao lại có những con người gắn bó với đất, với nước, với nghề làm gốm thủ công trong thời đại này, khi người dân ở đây không có một tấc ruộng nào để làm nông nghiệp.
Làng nghề truyền thống gốm Quyết Thành là tên gọi hiện nay của làng. Xa xưa hơn, nơi đây có tên là làng Đinh Xá. Nghề gốm cho đến nay mặc dù chưa có bất kỳ một tài liệu khoa học nào nghiên cứu ở đây nhưng theo lời những người cao tuổi trong làng truyền lại thì nghề gốm xuất hiện ở Đinh Xá khoảng 600 năm trước, do một người từ Thanh Hoá mang ra truyền lại cho làng. Sau đó cả làng gọi là tổ sư nghề gốm, tôn làm Thành Hoàng làng, thờ tại đình làng và hàng năm đều mở hội làng vào ngày 15 và 16 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ đến ông tổ nghề.
Chạy dài gần 4 cây số, suốt từ giáp cầu Quế cho đến chùa Bà Đanh, Đinh Xá xưa bám dọc theo triền đê sông Đáy, chia thành hai làng là Đinh Xá Thượng và Đinh Xá Hạ. Nghề gốm trước kia nổi tiếng khắp nơi, làm nhiều sản phẩm mỹ nghệ. Khi chiến tranh nổ ra, nghề gốm bắt đầu sa sút, các lò nung gốm nguội lửa dần do thanh niên lên đường nhập ngũ. Năm 1959, Hợp tác xã gốm Quyết Thành được thành lập với mục đích khôi phục và phát triển nghề gốm của làng. Tuy được bao cấp sản phẩm đầu ra nhưng lúc này, nghề gốm chỉ còn tập trung được ở khu vực làng Hạ, người làng Thượng không nổi lửa lò nung nữa mà sang làm thuê cho làng Hạ. Năm 1989, khi thị trấn Quế được thành lập, Đinh Xá Thượng được tách ra thành Đanh Xá, thuộc đơn vị hành chính xã Ngọc Sơn (huyện Kim Bảng), còn làng Hạ được đổi tên là làng Quyết Thành theo tên Hợp tác xã và được tách ra thành một thôn của thị trấn Quế. Năm 1999, làng Quyết Thành được công nhận là Làng Văn hoá cấp tỉnh. Năm 2004, Quyết Thành được công nhận là làng nghề truyền thống của tỉnh. Năm 2008, làng được đánh số nhà, đặt tên phố, trở thành tổ dân phố số 7 của thị trấn Quế.
Thời gian thay đổi, không gian thay đổi, con người cũng nhiều biến động cùng với sự phát triển của xã hội, chỉ có nghề gốm ngày nào vẫn thế. Những người thợ ở Quyết Thành bây giờ vẫn trung thành với việc sản xuất các sản phẩm gốm bằng thủ công là chính, chỉ có một số rất ít công đoạn được cơ khí hoá nhưng cũng là những máy móc lạc hậu như máy nghiền đất, máy tiện bằng điện, bàn quay được gắn ổ bi và được kéo bằng môtơ. Còn lại vẫn nguyên thuỷ thủ công như thế. Công nghệ không thay đổi dẫn đến sản phẩm làm ra thật khó tìm được đầu ra rộng rãi và những người tìm đến đây đặt hàng, phần nhiều cũng khó tìm thấy mẫu mã ngay để có thể đặt hàng, khi mà một mẻ sản phẩm gốm của làng từ khi bắt đầu sản xuất đến khi thành phẩm (người thợ ở đây gọi là một vòng lò) phải mất khoảng 20 ngày. Mới đầu, đất sét được ngâm trong bể nước khoảng 24 giờ đồng hồ, tuỳ theo từng loại đất cụ thể. Sau đó, nước được rút hết và làm nhuyễn đất bằng việc giẫm chân, hoặc máy nghiền. Đất nhuyễn được đặt lên bàn xoay tạo sản phẩm, sau đó được phơi ráo, thường là phơi nắng tự nhiên sẽ tốt và khô đều, sản phẩm không bị nứt, tách nẻ, nếu không có nắng thì sấy khô, rồi đắp hoạ tiết, đánh giấy ráp lau chùi sạch sẽ. Sau đó phơi khô hẳn sản phẩm, một số mặt hàng được tráng thêm lớp men theo đơn đặt hàng riêng, còn thường là để mộc và cho vào lò nung. Sản phẩm từ lúc bắt đầu nhào đất đến lúc đưa vào nung thường phải mất từ hai, ba đến năm ngày. Nhưng khi vào lò nung với công nghệ nung cổ truyền thủ công bằng than và củi rất lạc hậu, thời gian sản phẩm ở trong lò mất thêm 15 ngày nữa mới có thể lấy ra sử dụng được.
Nguyên liệu làm gốm Quyết Thành cũng khá đa dạng và rất phong phú. Dù không có chất lượng đất tốt như trước và người dân nơi đây không có đất ruộng nhưng nguồn tài nguyên này vô cùng nhiều. Đất nguyên liệu được người thợ gốm mua từ các xã lân cận với nguồn tài nguyên sét vàng được lấy từ các chân ruộng ven núi. Khoảng tháng 11 âm lịch hàng năm, sau mùa gặt, đất được thợ gốm đến mua bằng cách lật lớp đất bùn trên bề mặt ruộng, sau đó xắn sâu xuống khoảng một thép mai (khoảng 40 cm) để lấy đất sét vàng lên rồi lấp lại lớp đất màu xuống để tiếp tục trồng cấy. Vậy mà một năm sau, đất sét vàng lại được đùn lên đầy chân ruộng. Vì thế, nguyên liệu vô cùng sẵn và được tập kết về kho để làm dài dài suốt cả năm. Ông Tiến nói trong sự bùi ngùi: Quyết Thành được rất nhiều lợi thế như nguyên liệu dễ kiếm và nhiều vô cùng, tay nghề thợ thủ công của làng cao, lực lượng lao động làm nghề đông đảo và yêu nghề, giao thông đi lại thuận tiện cả đường sông với hệ thống sông Đáy và đường bộ ven quốc lộ 21 nhưng do chưa được quảng bá tốt nên sản phẩm ở đây chưa đi được xa, chưa nhiều nơi biết đến. Và vì thế, việc sản xuất cũng khó phát triển được, nếu không muốn nói là cầm chừng và có xu hướng mai một dần. Trước năm 2008, khi kinh tế thế giới chưa lâm vào khủng hoảng, gốm Quyết Thành còn được xuất khẩu sang nhiều nước như Cộng hoà Séc, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản… nhưng mấy năm nay chỉ loanh quanh bán trong khu vực cho các đại lí, các dịch vụ thu mua đi bán dạo khắp nơi. Vì thế, sản phẩm không nhiều, công nghệ không có ai dám đầu tư thay đổi.
Cả làng Quyết Thành có 650 khẩu và 212 hộ gia đình thì hiện tại chỉ có khoảng 70 hộ, với mỗi hộ một lao động chính còn tham gia làm nghề thường xuyên. Vào những lúc rỗi rãi, những khi bán được hàng hoặc một số thời gian có các hội chợ, các gian hàng trưng bày triển lãm cần đến gốm ở đây thì số lao động được bổ sung, thường là khoảng trên 100 người làm nghề. Hiện cả làng chỉ còn lại 4 lò nung gốm do 4 thợ giỏi được tỉnh công nhận, mỗi người phụ trách một lò là ông Lại Văn Tiến, bà Lại Thị Tính, các ông Lại Văn Kiểm, Nguyễn Văn Hải. Mỗi lò có khoảng 10 đến 15 thợ chính. Thu nhập bình quân của các lao động tham gia làm nghề gốm truyền thống được 1,2 triệu đồng/tháng nên cũng không thu hút được nhiều người mặn mà với nghề. Dù những người làng gốm vẫn truyền dạy cho nhau theo hình thức truyền tay trong gia đình nhưng lứa thanh niên hầu như chỉ biết nghề, thậm chí nhiều người giỏi nghề nhưng không mặn mà với nghề mà đều tìm cách thoát li làm nghề khác. Hợp tác xã dù quản lí cả 4 lò nung cùng số lao động nghề gốm của cả làng nhưng do thiếu sự năng động của người quản lí nên sản phẩm cũng chỉ loanh quanh tiêu thụ trong khu vực nhỏ hẹp với số lượng không lớn. Những thợ giỏi ở làng chỉ biết làm nghề, trăn trở với nghề, với việc truyền nghề và vui buồn với sự thăng trầm của nghề chứ cũng không biết cách nào tháo gỡ để tìm đầu ra cho nghề phát triển. Làng cũng đã tổ chức được 2 lớp dạy làm nghề gốm cho con em trong làng học tập trung, mỗi lớp được khoảng 20 đến 30 thanh thiếu niên đang là học sinh các cấp nhưng cũng chỉ giúp các em làm được những công việc vặt giúp đỡ cha mẹ khi không phải đến trường, còn lại thì hầu như rất khó thuyết phục được lao động trẻ gắn bó với nghề.
Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Lại Văn Tiến đau đáu những trăn trở về sự phát triển của nghề khi ông không giấu giếm sự tiếc nuối về tay nghề và lực lượng lao động có chuyên môn cao của làng đang bị bỏ phí với những công việc chạy chợ khác. Ông cũng từng hơn 3 năm liền đến ăn ở tại làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội để học thêm các kỹ thuật làm gốm truyền thống của họ cũng như xem cách họ kinh doanh, phát triển nghề nhưng rồi cũng chẳng thể áp dụng được nhiều ở đây, kể cả khi ông là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố có nghề truyền thống này. Ông cũng không giấu nỗi thất vọng khi tay nghề của thợ gốm Quyết Thành có thể làm được rất nhiều loại sản phẩm với kỹ nghệ cao, tinh xảo, có thể phục chế lại các sản phẩm gốm, sành cổ, nhưng chẳng bao giờ được thể hiện tay nghề. Nhiều khi buồn, ông cũng xuống bảo tàng Hà Nam nghiên cứu một số cổ vật bằng sành, bằng đất nung, bằng gốm sứ rồi về chế tác lại như chú Tễu, hay chiếc lư hương đời Nguyễn mà sau này ông đã bê đi triển lãm rất nhiều tại các hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh, vào tận Festival Huế và đi các tỉnh nhằm quảng bá thương hiệu cho làng nhưng do không biết cách làm nên không thành công. Chỉ duy nhất một lần vào năm 1997 - 1998, thợ gốm của làng được thuê phục chế sản phẩm đất nung đỏ đầu rồng thế kỷ 15 cho bảo tàng Nam Định. Điều đó khiến cho những tay thợ làng gốm nản dần, ít chú tâm đến nghề truyền thống.
Hiện nay, các sản phẩm gốm Quyết Thành chủ yếu được sản xuất và bán ra là các loại tiểu sành; chum; các loại lọ và nậm đựng rượu với nhiều dung tích từ loại nhỏ đến loại đựng được 40 lít; các loại cối giã cua bằng sành; các đồ chăn nuôi gia súc gia cầm như máng sành, vò, vại; các loại vật liệu xây dựng như ống nước, ống bể phốt, thỉnh thoảng cũng sản xuất theo đơn hàng những vật liệu trang trí như ngói vẩy, ngói hài; một số đồ lưu niệm như các loại con giống bằng sành, gốm… Hàng gốm Quyết Thành chủ yếu có 3 loại là hàng sành là loại hàng gốm được nung ở nhiệt độ cao từ 1300 độ C trở lên, nhiều sản phẩm thành sành sừng rất cứng; hàng son là loại gốm có nhiệt độ nung từ 1200 đến dưới 1300 độ C chủ yếu là hàng mỹ nghệ và hàng đất đỏ có nhiệt độ nung khoảng xấp xỉ 700 độ C khiến sản phẩm vẫn còn nhiều tạp chất và đất chưa được làm kỹ như vẫn còn đất sỏi ruồi… Hàng đất đỏ chủ yếu là những đồ cổ phục chế. Năm 2010, hàng son đã được Sở Khoa học công nghệ công nhận thương hiệu “Gốm son mỹ nghệ Quyết Thành”.
Mong ước của ông Tiến, cũng như những người thợ giỏi, những người thợ gốm của làng là gốm Quyết Thành sớm tạo được thương hiệu, có đơn đặt hàng hoặc sản xuất uỷ thác để có thể đầu tư thay đổi công nghệ, phát triển làng nghề. Điều mong ước giản đơn nhất là được các cấp tổ chức giao lưu, học hỏi giữa các làng nghề, các nghệ nhân làng nghề trong tỉnh để có cơ hội kết hợp giữa các sản phẩm làng nghề thủ công trong tỉnh với nhau như làng nghề rượu kết hợp với làm bình gốm, kết hợp mây tre đan với gốm của làng (dù hiện nay làng Ngọc Động đã lấy gốm nơi khác về để kết hợp với mây tre đan), kết hợp giữa nghề làm sừng với đồ gốm… Chỉ cần các làng nghề trong tỉnh phối hợp với nhau phát triển thì sản phẩm đã có thể giúp cho các làng nghề tạo uy tín và thương hiệu trên thương trường, cũng như tạo công ăn việc làm và thu nhập để khuyến khích các thợ nghề gắn bó, phát triển nghề. Làng cũng nằm trong tuyến du lịch Ngũ Động Sơn - chùa Bà Đanh nên nếu kết hợp với du lịch làng nghề được thì sản phẩm quà lưu niệm cũng như các hoạt động của làng sẽ có cơ hội phát triển.
Hoàng Trọng Muôn
(In trên Văn hoá Hà Nam, số 2 - 2011)


Bản in







